Hợp tác cùng phát triển

Ngành Ngân hàng – KQKD Q1/23: khó khăn dần hiện hữu

Báo cáo ngành 09/05/2023    2719

Chia sẻ

  • Tăng trưởng LNTT trung bình 25 NH niêm yết Q1/23 chỉ đạt ~6% svck (chậm lại đáng kể so với mức tăng Q1/22 ~30% svck).
  • Tăng trưởng tín dụng hệ thống đến cuối Q1/23 đạt 2,1% so với đầu năm – thấp hơn nhiều so với các quý cùng kỳ trước là 5-6%.
  • Chất lượng tài sản suy yếu tại hầu hết các NH niêm yết; tỷ lệ nợ xấu toàn ngành đã tăng từ 2% cuối 2022 lên 2,9% cuối Q1/23 (theo NHNN).

Cho vay doanh nghiệp chiếm ưu thế

Cuối Q1/23, tăng trưởng tín dụng toàn ngành chỉ tăng 2,1% so với đầu năm (thấp hơn đáng kể so với mức 5-6% các quý cùng kỳ trước). Các ngân hàng thương mại (NHTM) có tỷ trọng cho vay doanh nghiệp (KHDN) lớn đã đạt tăng trưởng tín dụng cao hơn trung bình ngành (TCB, HDB, VPB, TPB, MSB… hình 2). Ngược lại, tín dụng tại các NH cho vay cá nhân (KHCN) ghi nhận giảm/chậm lại so với đầu năm (ACB, VIB, STB… hình 2). Nền kinh tế suy yếu đã ảnh hưởng lên thu nhập cũng như khả năng trả nợ của KHCN, theo đó làm giảm nhu cầu vay và các NH sẽ thận trọng hơn khi giải ngân cho nhóm này. Ngược lại với KHDN, cụ thể là BĐS với vấn đề thanh khoản trước đó đang rất cần thêm dòng tiền để đảo nợ/tài trợ HĐKD (tín dụng kinh doanh BĐS tăng 6,5% so với đầu năm).

Tăng trưởng huy động có sự phân hóa rõ rệt

Bên cạnh việc cắt giảm chi tiêu, KHCN sẽ có xu hướng tăng “gửi tiết kiệm” trong môi trường lãi suất cao và kinh tế suy yếu (tiền gửi cá nhân tiếp tục đà tăng trưởng cho đến tháng 2/2023). Trong khi đó, tiền gửi KHDN tiếp tục sụt giảm đáng kể cùng thời điểm (hình 6). Dù thanh khoản trên thị trường liên NH đã dồi dào trở lại, kênh tiền gửi khách hàng hiện vẫn chiếm phần lớn trong tổng huy động của các NH. Theo đó, xu hướng nói trên sẽ có lợi cho thanh khoản của các NH có tỷ trọng tiền gửi lớn đến từ KHCN và hệ số LDR cao như STB, ACB, VCB…

NH nào sẽ hạn chế được rủi ro NIM thu hẹp?

NIM trung bình của 25 NH niêm yết giảm 18 điểm cơ bản trong Q1/23 do các NH đã phải hi sinh một phần lợi nhuận để hỗ trợ KH. Hơn nữa, NIM của 1 số NHTM như TCB, TPB, VPB, MBB… giảm đáng kể do TPDN và cho vay tiêu dùng (2 lĩnh vực có lợi suất cao hơn các khoản vay thông thường) đang khó khăn. Chúng tôi cho rằng xu hướng tăng cho vay KHDN và huy động từ KHCN sẽ duy trì tới khi lãi suất hạ nhiệt rõ rệt và nền kinh tế có sự phục hồi (ít nhất đến Q3/23). Vì vậy trong 2023, NIM của các NHTM (1) cho vay KHDN và nắm giữ TPDN trong danh mục tín dụng và (2) huy động chỉ phụ thuộc vào tiền gửi KH, sẽ giảm mạnh hơn toàn ngành. Ngược lại, nhóm NH tập trung cho vay bán lẻ và có nguồn huy động đa dạng (từ liên NH, KHCN, CASA cao…) như VIB, HDB, MBB… sẽ hạn chế được rủi ro NIM thu hẹp. Riêng với STB, NIM sẽ cải thiện đáng kể nhờ không còn áp lực thoái lãi dự thu.

Chất lượng tài sản vẫn là yếu tố đáng quan tâm nhất

Theo số liệu từ NHNN, tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn ngành đã tăng lên mức 2,9% cuối Q1/23 (so với 2% cuối 2022). Đa số các NH đều ghi nhận tỷ lệ NPL tăng và LLR giảm so với quý trước (hình 13 & 14). Nhắc lại, khó khăn từ thị trường BĐS vẫn là một thử thách lớn cho triển vọng ngành NH khi lĩnh vực này chiếm đến 21% tín dụng hệ thống vào cuối 2022. NH với bộ đệm dự phòng tốt và danh mục cho vay không tập trung vào BĐS như VCB, ACB… sẽ hạn chế được rủi ro hiện tại. Tuy vậy, chúng tôi kỳ vọng áp lực trích lập dự phòng cũng như rủi ro nợ xấu của các NH, cụ thể như TCB, MBB, VPB… được giảm bớt trong thời gian tới, khi dòng tiền của các DN BĐS có thể cải thiện phần nào nhờ các chính sách hỗ trợ được ban hành (hình 19) và một số các dự án BĐS được tháo gỡ pháp lý.

Đọc báo cáo chi tiết tại: Đây