Bản tin ngày 15.09.2010

2010-09-15 11:39:58.0 - VNDIRECT
  • Nhà đầu tư nên giữ một tỷ lệ cổ phiếu thấp trong tài khoản để giảm thiểu rủi ro và chờ đợi cơ hội.
  • Index vẫn cần có những xúc tác mang tính vỹ mô hoặc sự thay đổi tích cực của dòng tiền để tăng điểm. Thiếu những yếu tố này, thị trường nhiều khả năng đi ngang hoặc bào mòn giảm điểm.
  • Mốc 450 vẫn được coi là vùng cân bằng cung cầu trong ngắn hạn.

Thị trường đã có phiên giảm thứ hai trong tuần trong sự do dự của nhà đầu tư trước khi công bố các sửa đổi của thông tư 13 và các tin tức vĩ mô tốt xấu đan xen trên thế giới. Thanh khoản tăng trên HOSE đạt 1.022 tỷ với lực đỡ khá rõ ràng của khối ngoại vào một vài mã Blue Chip như  OGC, HAG, KDC, PPC. Đây có thể là động thái đỡ giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ trước khi quý III kết thúc. Hầu hết thời gian giao dịch VN-Index nằm dưới giá tham chiếu nhưng kết thúc phiên chỉ giảm nhẹ 0,06%. Sàn HNX mất tới 2,09% và thanh khoản sụt giảm mạnh với 27,82 triệu cổ phiếu được giao dịch đạt giá trị 665,8 tỷ đồng.

Trong phiên giao dịch ngày hôm nay khối ngoại đã mua vào tới hơn 202 tỷ trên HOSE. Giá trị mua ròng cũng đạt 121 tỷ – mức cao nhất kể từ ngày 31-8. Nhà đầu tư nước ngoài cũng mua ròng 2,5 tỷ trên sàn HNX, đây là phiên mua ròng thứ hai trong tháng 9 này. Tổng cộng nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng 11,8 tỷ trên HNX và mua ròng 509,5 tỷ trên HOSE kể từ ngày 1-9-2010.

Phân tích kỹ thuật: VN-Index vẫn dao động trongkênh xu thế giảm giá. Hình mẫu Doji và KLGD tăng trong phiên giao dịch ngày hôm nay thể hiện sự giằng co giữa hai bên bán và mua. Nhìn chung xu hướng giảm giá vẫn khá rõ nét với các đường trung bình giá đang đi xuống và đường trung bình ngắn ngày nằm dưới các đường trung bình dài ngày hơn. Mức hỗ trợ nằm ở mức 441 điểm và tiếp theo ở mức 421 điểm. Mức kháng cự gần nhất tại 450 điểm, mức kháng cự mạnh tiếp theo tại 465 điểm.

Nhận định thị trường: Rủi ro giảm giá cao đã làm dòng tiền xa rời sàn HNX nơi có biên độ giao động giá cao hơn và cũng ít các mã Blue chips hơn. VN-Index không giảm giá mạnh nhờ vào các tác động của các tổ chức và nhà đầu tư lớn vào một số mã cổ phiếu. Tuy nhiên, kể cả khi có sự nâng đỡ, dòng tiền tự nhiên vẫn không vào thị trường nhiều thể hiện qua thanh khoản thấp, Index đang ở trạng thái tìm điểm cân bằng mặc dù rủi ro vẫn nhiều hơn tích cực. Dòng  tiền chưa có dấu hiệu mạnh lên trong bối cảnh các ngân hàng đang phải chạy nước rút để thực hiện các yêu cầu theo thông tư 13. Việc thông tư này sẽ sửa đổi như thế nào vẫn còn là câu hỏi. Lãi suất qua đêm giảm nhẹ về mức 6,91% và giao dịch chững lại trên thị trường  mở OMO đang cho thấy các cải thiện thanh khoản ngắn hạn của các ngân hàng thương mại. Chúng tôi cho rằng thị trường  vẫn thiếu hai yếu tố chính để tăng điểm bền vững là dòng tiền và tâm lý tự tin của nhà đầu tư. Vùng giá 450 đang chứng tỏ là vùng cân bằng cung cầu của thị trường  trong ngắn hạn.

Khuyến nghị nhà đầu tư: Nhà đầu tư nên giữ một tỷ lệ cổ phiếu thấp trong tài khoản để giảm thiểu rủi ro và chờ đợi cơ hội. Index vẫn cần có những xúc tác mang tính vĩ mô hoặc sự thay đổi tích cực của dòng tiền để tăng điểm. Thiếu những yếu tố này, thị trường nhiều khả năng đi ngang hoặc bào mòn giảm điểm. Mốc 450 vẫn được coi là vùng cân bằng cung cầu trong ngắn hạn.

DANH SÁCH CÁC MÃ CỔ PHIẾU ĐÁNG QUAN TÂM

STT


CK

Giá
(1.000đ)

 Vốn hóa
(tỷ đồng)

 EPS

KL
trung bình
10 ngày

 Lợi nhuận sau thuế (tỷ đồng)

 P/E
hiện tại

 P/E
2010

Lợi nhuận sau thuế

 Q3.2009

 Q4.2009

 Q1.2010

 Q2.2010

 Dự báo 2010

2008

2009

1

NTL

67.0

2,197.6

12,656

149,952

86.94

235.75

4.04

 

675.00

5.29

3.26

61.81

530.403

2

VST

13.5

796.5

3,353

197,746

39.25

101.94

24.42

32.21

161.67

4.03

4.93

191.75

60.0708

3

NTP

84.1

1,822.4

15,022

15,070

103.43

46.09

70.33

105.67

276.50

5.60

6.59

154.41

305.663

4

BMP

49.5

1,721.1

7,010

20,783

74.83

45.88

48.45

74.56

204.51

7.06

8.42

95.92

249.919

5

TCL

40.3

685.1

6,190

62,007

23.05

32.37

22.96

26.86

103.05

6.51

6.65

58.92

86.2959

6

HDC

47.5

735.1

6,881

37,648

18.96

26.52

33.44

27.58

127.50

6.90

5.77

33.89

77.3255

7

HPG

37.9

11,163.3

4,129

384,981

358.14

238.34

278.09

341.74

1,734.04

9.18

6.44

854.19

1271.89

8

FPT

73.0

14,031.1

6,704

236,357

322.16

288.21

290.09

388.10

1,399.79

10.89

10.02

836.27

1063.35

9

VNS

30.1

903.0

3,740

208,614

24.13

35.97

29.03

23.06

208.54

8.05

4.33

55.77

107.467

10

PET

18.6

1,031.8

2,257

335,829

35.52

11.51

44.14

34.05

135.50

8.24

7.61

88.34

115.168

11

SJS

64.5

6,450.0

9,116

383,438

264.11

393.81

38.39

215.33

785.00

7.08

8.22

118.88

705.15

12

GMD

36.5

2,886.4

3,208

423,278

100.20

74.69

31.15

47.64

240.36

11.38

12.01

-166.98

322.705

13

VNM

88.5

31,246.9

8,725

38,763

730.64

601.48

817.63

930.94

3,364.00

10.14

9.29

1250.12

2375.69

14

PNJ

33.8

2,028.0

3,561

73,361

39.98

49.06

61.88

62.73

247.16

9.49

8.21

125.56

204.492

15

PVD

43.5

9,157.1

3,066

208,448

202.29

27.26

92.45

323.48

930.91

14.19

9.84

922.26

814.612

16

HAG

72.5

21,207.8

5,333

355,122

320.47

331.65

509.46

398.44

2,206.58

13.59

9.61

700.30

1188.85

Trân trọng,

Phòng Tư vấn đầu tư

 

Để đọc bản tin đầy đủ, Quý khách vui lòng tải file đính kèm bên dưới.

File đính kèm: