Bản tin ngày 10.09.2010

2010-09-10 12:01:20.0 - VNDIRECT
  • Theo phân tích kỹ thuật, thị trường có áp lực giảm tiếp trong phiên ngày thứ Hai làm gãy xu hướng tăng hiện tại.
  • Chúng tôi khuyến nghị, thay vì mua đuổi theo chỉ số, nhà đầu tư nên xác định điểm cân bằng của thị trường và mua bán cổ phiếu dựa trên mốc cố định đó.
  • Ở thời điểm hiện tại, nếu không có thay đổi vĩ mô, chúng tôi cho rằng điểm cung cầu đang cân bằng ở mức trên dưới 450 điểm.

Chỉ số đi ngang và giằng co đầu phiên nhưng giảm mạnh bắt đầu từ khoảng 10 giờ khi nhà đầu tư nhận thấy không còn lực đỡ thị trường và tâm lý bán tháo đã trở thành hiện thực. VN-Index kết thúc phiên giảm 2,65% xuống 451,39 điểm. HNX-Index giảm 3,74% xuống 131,15 điểm. Thanh khoản ở cả hai sàn trên 100 triệu đơn vị.

Như chúng tôi đã nhận xét trong báo cáo trước, thị trường đang ở giai đoạn khá nhạy cảm khi đợt tăng điểm vừa rồi có sự kích cầu bởi bàn tay tổ chức. Chỉ số vẫn còn rủi ro giảm sâu khi tâm lý sẵn sàng bán tháo vẫn còn và khi lực đỡ của tổ chức rút khỏi thị trường. Điều này đã xảy ra ngay trong phiên hôm nay vào lúc khoảng 10 giờ khi lực đỡ không còn và nhà đầu tư hô hào nhau “bán trước tính sau”.  Hy vọng nhà đầu tư VNDIRECT làm theo nhận định của chúng tôi và không bị thiệt hại nhiều trong phiên hôm nay.

Việc đoán chỉ số sẽ đi tiếp thế nào là điều rất khó, nhưng việc xây dựng kỳ vọng về một khoảng điểm cân bằng của chỉ số dựa trên phân tích cơ bản của cổ phiếu và những nhận xét vĩ mô cả về kinh tế và chính trị là có thể và là điều nên làm. Yếu tố tâm lý có thể đẩy chỉ số lên mức cao quá hay thấp quá trong một thời gian ngắn nhưng theo kinh nghiệm, cuối cùng chỉ số cũng sẽ tìm được điểm cân bằng quanh giá trị thực về cơ bản. Khi biết được điểm cân bằng, nhà đầu tư có thể chọn lựa tham gia thị trường với quan điểm “lên bán, xuống mua” xoay quanh một mốc cố định để tránh tình trạng mua bán hoảng loạn theo thị trường. Chúng tôi cho rằng, nếu không có thay đổi về vĩ mô, điểm cân bằng của VN-Index hiện ở vùng 450 điểm. Nhiều phiên gần đây, xoay quanh mức giá này, cung khá tương đương với cầu. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi động thái cung cầu trên thị trường để có những thông báo kịp thời về điểm cân bằng của chỉ số.    

Phân tích kỹ thuật: Thị trường vẫn nằm trong vùng xu hướng tăng nhưng đã tiến gần tới vùng bẻ gãy xu hướng sau phiên giảm mạnh hôm nay. VN-Index hiện tại nằm ở 451,39 điểm với mức kháng cự vẫn nằm ở 469 điểm trong khi các mức hỗ trợ nằm ở 450 điểm, 440  điểm và sâu hơn là 420 điểm. Sau phiên giảm mạnh hôm nay đồ thị hình thành 1 nến dài màu đỏ. Theo quan sát các nến này trên đồ thị thì thông thường thị trường sẽ có áp lực giảm tiếp phiên sau đó và đa số cho thấy thị trường sẽ gãy xu hướng tăng hiện tại. Như vậy rủi ro bị bẻ gãy xu hướng tăng vừa qua của thị trường để tạo thành xu hướng giảm đang hiện hữu và bắt đầu tạo ra các rủi ro lớn nếu xu hướng giảm hình thành. Ngoài ra, các chỉ báo khác cũng khá mong manh khi đã tiến sát về các vùng đảo chiều của xu hướng.

Khuyến nghị nhà đầu tư: Theo phân tích kỹ thuật, thị trường có áp lực giảm tiếp trong phiên ngày thứ Hai làm gãy xu hướng tăng hiện tại. Chúng tôi khuyến nghị, thay vì mua đuổi theo chỉ số, nhà đầu tư nên xác định điểm cân bằng của thị trường và mua bán cổ phiếu dựa trên mốc cố định đó. Ở thời điểm hiện tại, nếu không có thay đổi vĩ mô, chúng tôi cho rằng điểm cung cầu đang cân bằng ở mức trên dưới 450 điểm.

DANH SÁCH CÁC MÃ CỔ PHIẾU ĐÁNG QUAN TÂM

STT


CK

Giá
(1.000đ)

 Vốn hóa
(tỷ đồng)

 EPS

KL
trung bình
10 ngày

 Lợi nhuận sau thuế (tỷ đồng)

 P/E
hiện tại

 P/E
2010

Lợi nhuận sau thuế

 Q3.2009

 Q4.2009

 Q1.2010

 Q2.2010

 Dự báo 2010

2008

2009

1

NTL

67.0

2,197.6

17,235

160,957

86.94

235.75

4.04

238.59

675.00

3.89

3.26

61.81

530.403

2

VST

13.8

814.2

3,353

193,280

39.25

101.94

24.42

32.21

161.67

4.12

5.04

191.75

60.0708

3

NTP

84.0

1,820.2

15,022

21,980

103.43

46.09

70.33

105.67

276.50

5.59

6.58

154.41

305.663

4

BMP

49.0

1,703.7

7,010

28,013

74.83

45.88

48.45

74.56

204.51

6.99

8.33

95.92

249.919

5

TCL

40.3

685.1

6,190

66,056

23.05

32.37

22.96

26.86

103.05

6.51

6.65

86.2959

6

HDC

46.5

719.6

6,881

39,266

18.96

26.52

33.44

27.58

127.50

6.76

5.64

33.89

77.3255

7

HPG

37.6

11,074.9

4,129

446,438

358.14

238.34

278.09

341.74

1,734.04

9.11

6.39

854.19

1271.89

8

FPT

72.5

13,935.0

6,704

262,315

322.16

288.21

290.09

388.10

1,399.79

10.81

9.96

836.27

1063.35

9

VNS

31.4

942.0

3,740

183,681

24.13

35.97

29.03

23.06

208.54

8.40

4.52

55.77

107.467

10

PET

18.8

1,042.9

2,257

318,536

35.52

11.51

44.14

34.05

135.50

8.33

7.70

88.34

115.168

11

SJS

65.5

6,550.0

9,116

379,409

264.11

393.81

38.39

215.33

785.00

7.18

8.34

118.88

705.15

12

GMD

34.9

2,759.9

3,208

372,387

100.20

74.69

31.15

47.64

240.36

10.88

11.48

-166.98

322.705

13

VNM

88.5

31,246.9

8,725

40,640

730.64

601.48

817.63

930.94

3,364.00

10.14

9.29

1250.12

2375.69

14

PNJ

35.0

2,100.0

3,561

88,744

39.98

49.06

61.88

62.73

247.16

9.83

8.50

125.56

204.492

15

PVD

42.3

8,904.5

3,066

251,978

202.29

27.26

92.45

323.48

930.91

13.80

9.57

922.26

814.612

16

HAG

72.0

21,061.5

5,333

382,214

320.47

331.65

509.46

398.44

2,206.58

13.50

9.54

700.30

1188.85

Trân trọng,

Phòng Tư vấn đầu tư

Để đọc bản tin đầy đủ, Quý khách vui lòng tải file đính kèm bên dưới.

File đính kèm: